Thời đại kim khí ở Đồng Nai - Phần IV
Đây là
giai đoạn phát triển cao nhất của Phức hệ văn hóa tiền sử Đồng Nai, với
những thành tựu giao lưu kinh tế - văn hóa mới và những tiến bộ kỹ
thuật tiên tiến liên quan đến phát minh thuật rèn sắt và ứng dụng thành
phẩm của kỹ nghệ này trong thực tiễn sản xuất - chiến đấu truyền
thống, khởi đầu từ giữa TNK I tr.CN. Trong địa phận tỉnh Đồng Nai, các
di tích tiêu biểu của thời kỳ lịch sử sôi động này tập trung quanh vùng
đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh cổ kính, nơi “thế giới của các nón
núi lửa” thời Pleistocene. Có thể coi đây chính là vùng phát sinh và
quần cư quan trọng và liên tục nhất của người cổ Đồng Nai, vùng động lực
của truyền thống văn hóa - kỹ thuật thời kim khí cũng chính là 1 khu
kinh tế dân cư trung tâm tinh thần ở thời điểm mà cộng đồng người nguyên
thủy Đồng Nai khởi dựng cuộc sống văn minh với cấu trúc quyền lực mang
hình hài Nhà nước sơ khai của riêng họ. Một loại hình di tích đặc
trưng của thời Sắt sớm ở Đồng Nai là những làng nông nghiệp cổ có những
xưởng thủ công chuyên nghiệp đúc đồng - rèn sắt - sáng chế và bán buôn
đồ trang sức bằng đá quý - mã não - thủy tinh hay vàng bạc... và,
bên những nghĩa địa cổ truyền cạnh nơi cư trú, đã hình thành trên các
sườn đồi đất đỏ ven suối nhỏ những nghĩa địa riêng biệt chôn người chết
trong các quan tài bằng chum vò gốm.Di
tích Suối Chồn nằm trên sườn đồi basalte nâu đỏ ven bờ Tây suối Háp,
thuộc ấp Bảo Vinh B, xã Xuân Bình (Xuân Lộc), cách Xuân Lộc 4 km và cụm
di tích Cầu Sắt - Đồi Mít - Đồi Xoài chỉ 3 - 5 km về phía Đông Bắc. Di
tích do ông Đặng Bá Tước phát hiện từ 1976, sau đó, cán bộ Bảo tàng
Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN, Viện KCH, cùng các nhà
khảo cổ Nhật Bản đã nhiều lần điều tra thám sát (4 m2) và khai quật 2 lần (4 - 1978 và 4 - 1979) với diện tích 3 hố = 133 m2. Dấu tích văn hóa cổ ở Suối Chồn trải rộng tới 40.000 m2.
Các nhà khoa học phát hiện một khu cư trú cổ với lớp vật chất sinh
hoạt dày 0,3 - 1,4 m và 1 khu nghĩa địa riêng biệt với 9 mộ chum vò gốm
chứa đồ tùy táng bên trong. Di vật nơi ở và khu mộ thu được bao gồm
các sưu tập vật phẩm nội địa và ngoại nhập phong phú. Đồ đá có: 1 cuốc,
80 rìu bôn, 5 đục, 14 bàn mài công cụ hay vòng trang sức, 6 dao gặt, 1
chày nghiền, 1 bùa đeo, 10 khuôn sa thạch dùng đúc rìu, giáo, dùi, hoa
tai, lục lạc hay chuông nhỏ, 13 mảnh vòng tay, 2 khuyên tai và nhiều
hạt chuỗi. Đồ đất nung có: 14 dọi se sợi, 2 đạn, 2 quả cân cùng 9 chum
vò làm quan tài và 8 nồi tùy táng. Đồ thủy tinh có: 1 vòng tay và 2
khuyên tai có 3 mấu xanh lục. Đồ kim loại có: 5 rìu đồng, 5 kiếm sắt, 1
liềm và 1 thuổng sắt (1 mẫu rìu đồng được phân tích hóa - quang phổ ở
Viện địa chất Hà Nội cho biết thành phần hợp kim là: Cu+Pb+Sn). Di tích
Suối Chồn, gồm cả di tích cư trú và mộ táng, được xác định tương đương
với các “Cánh đồng chum” Phú Hòa - Dầu Giây - Suối Đá, vào khoảng nửa
sau TNK I tr.CN. Tuy nhiên, làng cổ Suối Chồn từ di chỉ cư trú đến mộ
táng trong cùng một kết cấu địa tầng cần được hiểu giống như là liên
tục về thời gian, là nội sinh trong kết cấu văn hóa vật chất, mà chính
trong nhiều khu vực ở quả đồi ven bờ Suối Háp này, vết tích của những
ngôi mộ đất truyền thống với tùy táng phẩm rìu đồng vẫn còn tồn tại
trong chiều hướng xuất hiện và lấn át của mộ vò và các loại hình chất
liệu trang sức tân kỳ (đá quý, mã não, thủy tinh màu) giống như là
những sắc tố khác thường gia nhập vào và cấu thành bản sắc văn hóa sơ
sử Đồng Nai thời sơ Sắt.Di
chỉ Dầu Giây mang danh dòng suối nhỏ tiếp giáp 2 huyện Thống Nhất -
Xuân Lộc, cách TP. HCM khoảng 70 km về hướng Đông – Đông Bắc, do E.
Saurin phát hiện 10 - 1965. Đây cũng là làng cổ gồm khu cư trú với tầng
văn hóa mỏng (10 - 20 cm) và đất đồi laterite. Tại đây, E. Saurin phát
hiện 2 mộ chum không nắp, bên trong chứa 1 mảnh xương, 1 mảnh bàn mài,
1 đá thạch anh và gốm vỡ của bình, nồi cùng ít than củi. Di vật thu
thập gồm: 2 dao sắt với 2 cạnh lưỡi sắc, 1 mảnh tước đá, 1 chày nghiền,
1 con lăn, 1 đá khắc và nhiều bàn mài rãnh, đặc biệt còn có 3 mảnh
khuôn dùng đúc rìu, bông tai và mũi kim. Gốm vỡ ở đây làm bằng sét pha
cát, than hoặc bả thực vật băm nhỏ đốt thành tro cùng nhiều khoáng vật
như mica, quarto - felspathique..., nung cao, tạo hình và trang trí khá
đẹp. Đó là mảnh của nồi miệng loe đáy cong, bình có cổ loe hay có vai,
đĩa có đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở... với trang trí văn
thừng, khắc vạch tạo những vòng tròn khép kín, sóng nước, khuông nhạc,
răng sói, hình sóng hay xoắy ốc... Di tích Dầu Giây có hàm chứa tư liệu
địa tầng và sưu tập di vật có giá trị làm sáng tỏ kết cấu văn hóa của
giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt Đồng Nai và cùng với khu di chỉ - mộ
địa Suối Chồn mang những đặc trưng văn hóa của giai đoạn phát triển
cuối cùng của xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai.Phú Hòa (10053’45’’B - 107015’00’’Đ)
là tên 1 ấp cũ, nơi có nghĩa địa quan tài chum gốm cổ chiếm trọn 1 quả
đồi đất đỏ basalte cao gần 200 m/mức biển, nhìn xuống thung lũng hẹp
bao bọc bởi 2 nhánh của sông Ray, thuộc địa phận ấp Bảo Đỉnh (Xuân
Lộc), ven quốc lộ I và cách Xuân Lộc 3 km về hướng Nam. Di tích do nhân
dân địa phương phát hiện 3 - 1971, H.Fontaine và Hoàng Thị Thân khảo
sát và khai quật “chữa cháy”, xử lý 46 mộ chum. Sau 1975, Hoàng Thị
Thân cùng cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH đã trở lại đây phúc
tra, rồi từ 1977 - 1979, cùng Viện BTLS Việt Nam, Trường đại học tổng
hợp Hà Nội điều tra, đào vài hố thám sát và phát hiện thêm 1 vò nhỏ
cùng 1 thẻ đeo bằng đá, mảnh vỡ của nhiều chum gốm.Theo
các công bố của H.Fontaine (1971 - 1975), các chum cao khoảng 75 cm
với bụng rộng 40 - 80 cm, sắp xếp không theo quy luật, có khi thành
từng cụm, có khi lại cách quãng, nhưng đều chôn đứng ở những độ sâu
khác nhau. Chum làm từ sét pha cát hạt lớn lẫn khoáng vật (quarto -
felspathique), áo miết láng màu đỏ hồng, một số có trang trí những hình
xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nằm nghiêng nối tiếp hoặc cách đều
nhau. Đồ tùy táng cực kỳ phong phú, nhưng người xưa sắp xếp không đều
trong các chum, thường là đồ trang sức đủ loại, đồ gốm gia dụng hay
dụng cụ - công cụ và khí giới bằng sắt. Thống kê tổng quát đồ tùy táng
Phú Hòa có tới 1973 di vật định hình, trong đó: Đồ sắt có: 9 cuốc, 2
rìu, 5 dao, 13 liềm, 11 kiếm với 2 cạnh sắc, 1 quả cân. Ngoài 46 chum
làm quan tài, đồ đựng gốm có: 7 nồi đáy tròn có băng trang trí hình
răng sói ngang bụng, 14 bình cổ thắt dáng tròn hay hình quả trứng, 46
đĩa đáy bằng hay uốn cong có chiếc có 2 lỗ ở vành miệng để buộc dây
treo, 4 cốc, 5 đạn tròn hay dẹt, ngoài ra còn có ống chỉ có lỗ xuyên
dọc, chân đèn giống Sa Huỳnh, chân đế bát bồng... với nhiều dạng hoa
văn trang trí như in dấu vải, chấm dải, miết láng hay khắc vạch tạo các
đồ án hình học như các đường cong, gạch ngắn, răng sói, chấm xiên nhỏ,
hình chữ nhật, lượn sóng, chữ S nối nhau... Đồ trang sức Phú Hòa đa
dạng, gồm: 1 dây chuyền bạc, 22 vòng đeo tay (4 bằng đá mài bóng lộn, 2
vòng thủy tinh xanh sẫm, 15 vòng đồng với 1 vòng kép còn dấu vải mịn
trên bản vòng, 19 vòng sắt cấu tạo từ 2 thanh sắt tròn dính chặt nhau, 5
nhẫn sắt, 8 khuyên tai bằng ngọc nephrite màu trắng vân xanh với 2
khuyên tai có hình 2 đầu thú và 6 bông tai có 3 mấu giống trang sức mà
thổ dân miền núi Philippines gọi là “Lingling - O”, 2 lục lạc đồng...
Hạt chuỗi và cườm chiếm tới 1.800 tiêu bản, trong đó, ngoài 1 hạt bằng
vàng, còn lại thuộc 2 nhóm: gần 200 hạt có đường kính hơn 0,5 cm (30%
hình cầu, 30% hình trụ tròn, 20% hình thoi, 1 hạt hình quả trám, số còn
lại là ngọc dài với 6 - 7 diện tiếp xúc); loại có đường kính nhỏ hơn
0,5 cm thường là thủy tinh nhân tạo các màu đỏ, xanh, cam, vàng, lục,
hoặc đá quý như agate, granat, cornaline...)Theo
H.Fontaine và Hoàng Thị Thân, di tích Phú Hòa, cùng với Dầu Giây và
Hàng Gòn 9 có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh ở ven biển Nam Trung bộ
Việt Nam, với kết quả giám định C14 của bà G. Delbrias tại Centre des
Fablo Radioactivités ở Gif - sur - Yvette (Pháp) 1 mảnh gốm ở chum M8
và mẫu than gỗ trong các chum M11, M13 là: 2400 ± 140 và 2590 ± 240 năm
cách ngày nay.Di tích Hàng
Gòn 9 nằm trên một đoạn sườn đồi đất đỏ basalte ven suối Gia Liêu (còn
gọi là suối Đá), diện tích khoảng 100 x 50 m = 5.000 m2,
được E. Saurin khám phá 1963, thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng
Gòn, xã Xuân Tân (nay thuộc huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc
10 km về phía Tây Nam. Lần đầu tiên khảo sát ở đây, E. Saurin chỉ tìm
thấy 2 chum gốm có cả khuyên tai 2 đầu thú, 1 kiếm sắt và nhiều gốm vỡ.
Sau đó, ông phát hiện thêm 60 chum nữa chôn đứng ở độ sâu 0,2 - 1,5 m
với những nắp đậy khác nhau. Trong chum không thấy xương răng người
chết và than tro, chỉ có những vật dụng thông thường bị những người mai
táng xưa cố ý đập vỡ, hay bẻ gãy trước khi chôn. Phía ngoài mộ chum,
đôi khi họ còn chôn kèm theo nhiều bình gốm, đồ sắt hay rìu đá còn
nguyên vẹn.Chum làm quan tài
thường cao 40 - 60 cm với miệng rộng khoảng 40 cm và chứa tùy táng phẩm
gồm: 2 rìu đá, 1 kiếm sắt, 1 cuốc sắt, 3 rìu sắt có họng tra cán và
lưỡi dẹt phẳng (thành phần hóa học của đồ sắt được E. Saurin giám định
cho thấy, ngoài nguyên tố Sắt là chủ yếu, còn cả dấu vết của chrome,
nickel, đồng, maganène, molybdene, lithium). Đồ gốm có các loại: dọi se
sợi hình chóp cụt có trang trí hình răng sói quanh rìa, khoanh gốm
hình ống, chân đèn, nắp đậy có trang trí những vòng tròn đồng tâm trên
mặt, đĩa nông lòng, cốc miệng rộng có trang trí văn sóng nước hay kiểu
khuông nhạc hoặc những vạch xiên trên vành mép, bình với các kiểu khác
nhau: mép gập vào có trang trí văn chải thưa; mép rộng thành cong; mép
vuốt mỏng hông nhỏ đáy trũng; miệng rộng đáy bằng... Hoa văn trang trí
đặc trưng của gốm Hàng Gòn là những hình xoắn ốc nằm giữa những băng
ngang hẹp. Đồ trang sức gồm: 1 hạt chuỗi bằng vàng hình tháp dẹt cuộn
tròn có 2 đoạn uốn cong làm mấu đeo; Hạt chuỗi bằng cornaline màu đỏ
hình đa giác, bằng agate có hình ống tròn hơi phồng, bằng pagodite màu
trắng, bằng zircon màu vàng nâu với lỗ xuyên dây, bằng thủy tinh màu
xanh đệm có hình đĩa nhiều cạnh, màu đỏ da cam hơi đục có hình ống; 1
bông tai đồng mạ vàng; 1 khuyên tai có 2 đầu thú bằng đá pagodite...Di
tích Hàng Gòn 9 có 2 mẫu than gỗ được D.J. Thomaret giám định tại
Trung tâm khoa học Monaco và 1 mẫu thực vật do bà G. Delibrias phân
tích tại Trung tâm phóng xạ yếu ở Gif - sur - Yvette, cho kết quả niên
đại C14: 2300; 2190; 2100 ± 150 năm cách ngày nay. Dù trong các quan
tài gốm chưa thấy nhân cốt hoặc than tro, E. Saurin vẫn nghĩ rằng đây
là khu mộ chum được hỏa táng giống như phong tục chung của cư dân
Indonésien. Ông cho rằng chủ nhân di tích này có quan hệ với tục sử
dụng quan tài bằng gốm ở Phú Khương (Quảng Ngãi) hay Dầu Giây, Phú Hòa
(Đồng Nai) và có thể quan hệ với tục mai táng trong “Klong” của người
Chăm, riêng những đồ trang sức chôn trong các mộ chum này có nguồn gốc
ngoại nhập từ nhiều trung tâm văn minh lớn của thế giới. Niên đại khu
nghĩa địa này theo tác giả tương đương với văn hóa Đông Sơn, bắt đầu
khoảng 500 năm tr.CN và kết thúc ở thế kỷ I sau CN. Theo
chúng tôi, di tích nghĩa địa chum Hàng Gòn 9, cùng với Suối Chồn - Dầu
Giây - Phú Hòa và những di chỉ mộ chum ở Cần Giờ cho thấy sự lan tỏa
và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa văn hóa Sa Huỳnh và truyền thống thời
đại kim khí - thời đại sắt văn hóa Đồng Nai; hình thành một cụm di
tích mang đầy đủ tính chất văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng
thời sơ sử ở Đồng Nai và toàn bộ địa vực hạ lưu của hệ thống sông này.Bên
cạnh cụm di tích mộ chum vò Suối Chồn - Dầu Giây - Suối Đá - Phú Hòa
và những làng nông nghiệp - thủ công thời sơ kỳ Sắt, trong vùng đất đỏ
basalte Xuân Lộc - Long Khánh còn hiện diện các công trình di tích văn
hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai đặc sắc khác nhau: Quần thể di tích
kiến trúc mộ bằng đá lớn (cự thạch) Hàng Gòn hay kho tàng chứa khối
lượng lớn vũ khí - công cụ - tượng thú quý hiếm trên đỉnh núi lửa cổ
Long Giao.Mộ cự thạch Hàng Gòn
trước đây thuộc đồn điền cao su Xuân Lộc, xã Xuân Lộc, tổng Lâm Bình
thượng, tỉnh Biên Hòa, sau đổi là ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân
Lộc, tỉnh Long Khánh; rồi ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai; ngày nay lại là ấp Hàng Gòn, xã Xuân Thanh, huyện Long
Khánh. Di tích còn gọi là Mộ cự thạch Xuân Lộc, thoạt đầu được E.
Saurin định số 7 trong 10 di tích mà ông khảo cứu ở đồn điền này (Hàng
Gòn 7), khi dân sở tại dựng miếu nhỏ thờ “Ông Đá” còn mang tục danh “Mả
Ông Đá”. Mộ đá lớn nằm trên vùng đồi đất đỏ basalte, cao độ 256 m so
với mực nước biển, cách Suối Đá nơi gần nhất 800 - 900 m, cách tỉnh lộ
2 khoảng 100 m về phía Tây, cách Xuân Lộc 8 km về phía Nam và cách
Biên Hòa 50 km về phía Đông.Đầu
năm 1927, khi mở đường liên tỉnh số 2, kỹ sư cầu đường Pháp J. Bouchot
nhìn thấy 1 tảng đá nhô thẳng từ dưới gốc cổ thụ lớn và từ giữa tháng 4
năm đó, ông cho khai quật khu vực này và thông báo 3 lần từ 1927 -
1929. Kết quả khám phá công trình “cự thạch” ở đây lập tức thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả phương Tây, bắt đầu từ vị chủ sự khảo cổ
Đông Dương H. Parmentier đến L. Malleret, E. Gaspardone, H. Loofs, E.
Saurin, H. Fontaine... cho đến gần đây với nhiều cuộc viếng thăm tìm
hiểu của các nhà khảo cổ Nga, Đức, Bungari, Nhật Bản, Mỹ.... Mộ cổ Hàng
Gòn được chính quyền Pháp xếp hạng năm 1930, ghi số 38 trong danh mục
“Mộ Đông Dương - di tích ở Nam kỳ”. Từ 1981 - 1982, Bảo tàng Đồng Nai
và Trung tâm KCH đã nhiều lần điều tra, xây dựng phương án nghiên cứu
phục hồi bảo vệ di tích. Năm 1984, mộ đá Hàng Gòn được Bộ văn hóa -
thông tin xếp hạng. Đầu năm 1992, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH tổ
chức khai quật lần 2 nhằm cứu vãn bản thân hầm mộ khỏi sụt lún và đổ
vỡ, nghiên cứu địa tầng quanh hầm mộ và tôn tạo di tích (Hình 9). Đầu
12 - 1995, khi tiến hành san ủi mặt bằng trong phạm vi giải tỏa của Xí
nghiệp khai thác đá (Nông trường cao su Hàng Gòn), những người lái xe
ủi húc phải 3 tấm đan bằng đá hoa cương nằm ngang cách mộ đá xưa 60 m
về phía Đông Nam. Ông Trần Tử Oai đã cấp báo Bảo tàng Đồng Nai. Sau 3
đợt điều tra khẩn cấp, được phép của UBND tỉnh, Bộ VHTT, Bảo tàng Đồng
Nai, Trung tâm KCH khai quật “chữa cháy” từ tháng 1 - 1996. Di tích cự
thạch vừa phát hiện liên hệ hữu cơ với di tích mộ Hàng Gòn phát hiện
năm 1927 đã xếp hạng cấp Quốc gia. Đoàn công tác đặt tên Hàng Gòn 7B
cho kiến trúc cự thạch này.Hàng Gòn 7A (10051’44’’B - 107014’07’’Đ).
Theo công bố của J. Bouchot và H. Parmentier, hầm mộ cự thạch có dạng
hình hộp chữ nhật, được lắp ghép bởi 6 tấm đan bằng đá hoa cương lớn
nằm theo hướng Đông Tây, ở giữa 4 hàng cột gồm: 8 trụ bằng sa thạch
hoặc basalte cao tới 2,5 - 3 m với đầu khoét lõm hình yên ngựa, 2 trụ
còn lại là 2 tấm đan lớn (7,2 x 1,1 x 0,35 m). Người khai quật đầu tiên
lưu ý đến 1 điểm khai thác đá hoa cương giống nguyên liệu làm hầm mộ
Hàng Gòn lộ thiên gần Đà Lạt và hình dung những nỗ lực phi thường của
người xưa nếu phải vận chuyển những khối đá có khi tới gần 10 tấn đi
hàng trăm cây số trong điều kiện địa hình nguyên thủy rất hiểm trở mang
về đây dựng mộ. Theo H. Parmentier, thoạt đầu người xưa kiến thiết hầm
mộ chìm trong lòng đất, các hàng cột chung quanh được chôn theo nấc
hình thang thấp dần theo hướng mộ, có tác dụng đỡ cho dụng cụ mở và
đóng nắp hầm mộ mà theo tính nặng gần 7 tấn. Việc nâng và hạ nắp hầm có
thể nhờ vào sự trợ lực của hệ thống ròng rọc ở các trụ đá - cây gá lắp
trên chỗ lõm hình yên ngựa của trụ chính cùng dây chằng luồn qua phần
nhô ra của nắp hầm và lực kéo tập thể, mà theo tác giả chỉ thực hiện mở
hầm mộ trong những dịp có nghi lễ mai táng lớn của cộng đồng.
sss
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét